Menu

Trượt đốt sống vùng thắt lưng

Trượt đốt sống (TĐS) là bệnh lý cột sống thường gặp trong lâm sàng. TĐS xảy ra chủ yếu ở vùng cột sống thắt lưng, cột sống cổ và cột sống ngực ít gặp hơn. Bài viết này tập trung về bệnh lý TĐS cột sống thắt lưng. TĐS vùng thắt lưng do nhiều nguyên nhân khác nhau gây nên: bẩm sinh, thoái hoá, chấn thương, bệnh lý… trong đó nguyên nhân thường gặp nhất là trượt đốt sống do hở eo và do thoái hoá.

1. Phân loại bệnh trượt đốt sống

Dựa trên phân loại của Newman, Macnab, năm 1976 Wiltse tổng hợp và đưa ra bảng phân loại chia bệnh TĐS thành sáu loại khác nhau:

1.1. Trượt đốt sống bẩm sinh (Congenital spondylolisthesis)

TĐS bẩm sinh hay còn gọi TĐS do rối loạn phát triển (Dysplastic spondylolisthesis). Đặc trưng của TĐS bẩm sinh là các khiếm khuyết về giải phẫu của mấu khớp. Bệnh khởi phát sớm từ tuổi thiếu nhi, TĐS có tính chất tiến triển. Tuỳ theo đặc điểm rối loạn phát triển của mấu khớp, TĐS bẩm sinh được chia làm hai nhóm phụ như sau:

-      Nhóm phụ I A: Thiểu sản mấu khớp, định hướng của khe khớp nằm trên mặt phẳng hướng ra sau, thường có dị tật gai đôi cột sống.

-      Nhóm phụ I B: Thiểu sản mấu khớp, định hướng của khe khớp nằm trên mặt phẳng hướng vào trong.

1.2. Trượt đốt sống do khe hở eo (Isthmic spondylolisthesis)

TĐS liên quan tới tổn thương vùng eo được chia làm ba nhóm nhỏ:

-      Nhóm phụ II A: Loại khuyết eo được nhận định là do gãy mệt.

-      Nhóm phụ II B: Loại trượt này phần eo cung sau dài hơn bình thường. Sự kéo dài này được giải thích là do hiện tượng gãy xương và liền xương xảy ra liên tục ở vùng eo.

-      Nhóm phụ II C: Chấn thương làm gãy eo gây trượt. Nhóm này cần phân biệt với TĐS chấn thương do gãy xương ở ngoài vùng eo.

1.3. Trượt đốt sống do thoái hoá (Degenerative spondylolisthesis)

TĐS thoái hoá xảy ra chủ yếu ở vị trí L4-5, bệnh thường gặp ở phụ nữ, tuổi từ 40-50. Thoái hoá cột sống, đặc biệt là thoái hoá đĩa đệm và các mấu khớp, làm mất tính vững chắc vốn có của cột sống gây nên TĐS. TĐS thoái hoá gặp nhiều thứ hai sau TĐS do khe hở eo.

 1.4. Trượt đốt sống do bệnh lý (Pathologic spondylolisthesis)

Các bệnh nhiễm khuẩn, ung thư làm hoại tử hay phá hủy các cấu trúc của cột sống có thể gây TĐS. BN mắc bệnh xương hoá đá (osteopetrosis) cũng thường có TĐS. Nhóm BN này nguy cơ gãy xương cao và do đó thường có khe hở eo. Martin thông báo 5/7 BN mắc bệnh xương hoá đá có khe hở eo và TĐS độ I. BN mắc bệnh xương hoá đá có thể hở eo ở nhiều đốt sống của cột sống thắt lưng, nhưng cũng có thể hở eo ở các đoạn cột sống khác.

1.5. Trượt đốt sống do chấn thương (Traumatic spondylolisthesis)

Chấn thương làm gãy cuống, gãy mấu khớp dẫn tới mất vững cột sống và trong một số trường hợp gây TĐS. Nhìn chung TĐS do chấn thương hiếm gặp, tuy nhiên cần phải chú ý khi trong tiền sử có chấn thương.

1.6. Trượt đốt sống sau phẫu thuật (Post-surgical spondylolis- thesis)

TĐS “do thầy thuốc” được Unander - Scharin đề cập lần đầu tiên vào năm 1950. Phẫu thuật cắt cung sau hoặc cắt cung sau mở rộng kèm theo cắt bỏ các mấu khớp có thể gây TĐS, đặc biệt trên những BN đã có tình trạng cột sống mất vững trước khi mổ. Thống kê của Richard cho thấy khoảng 3-5% BN mổ giải phóng chèn ép do bệnh lý thoái hoá cột sống gây mất vững cột sống sau mổ. Đối với BN được ghép xương, nhiều năm sau mổ có thể xảy ra TĐS ở trên mức ghép xương. Brunet J.A thông báo 14 trường hợp hình thành khe hở eo trong vòng 5 năm sau các phẫu thuật ghép xương vùng cột sống. Theo ông ngoài nguyên nhân làm tổn thương eo hai bên còn có sự tham gia của các yếu tố bệnh sinh khác như gãy mệt, tổn thương và làm giảm chức năng các dây chằng, thoái hoá đĩa đệm lân cận mức ghép xương.

Mặc dù vẫn còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau trong phân loại bệnh TĐS, nhưng đây là bảng phân loại phổ biến nhất. Cách phân loại dựa trên đặc điểm giải phẫu giúp thấy rõ nguyên nhân gây bệnh, giúp tiên lượng diễn biến của bệnh để lập kế hoạch điều trị hợp lý.

2. Lâm sàng và chẩn đoán hình ảnh

2.1. Triệu chứng lâm sàng

Đặc điểm lâm sàng chung của bệnh TĐS là tình trạng mất vững cột sống và chèn ép các rễ thần kinh. Cần thăm khám lâm sàng cẩn thận và tỷ mỉ để phát hiện ra các triệu chứng mất vững cột sống và các triệu chứng chèn ép rễ thần kinh.

Đau cột sống thắt lưng âm ỉ liên tục. Đau tăng khi cột sống phải chịu tải (đứng, đi bộ, lao động…), nằm nghỉ hết đau hoặc mức độ đau giảm nhiều. Thay đổi tư thế cũng gây đau cột sống, BN phải chống tay vào đùi khi đứng lên. BN TĐS nặng thường có biến đổi tư thế thân người và dáng đi. Cột sống thắt lưng có thể có biến dạng lõm, được gọi bằng nhiều tên khác nhau: dấu hiệu bậc thang, dấu hiệu nhát rìu…

Đau kiểu rễ hiếm khi xuất hiện ở thanh thiếu niên, nhưng khá phổ biến ở nhưng BN nhiều tuổi hơn. Đau cách hồi (intermittent pain) là triệu chứng đau đặc trưng của bệnh TĐS. BN đau khi đi bộ nằm nghỉ hết đau. Những BN có chèn ép rễ thần kinh thường đau cả khi nằm nghỉ. BN phải được phát hiện những dấu hiệu tổn thương thần kinh kèm theo nếu có để định khu rễ bị tổn thương.

2.2. Chẩn đoán hình ảnh

Nhiều phương pháp chẩn đoán hìn ảnh được sử dụng trong chẩn đoán bệnh TĐS: X-quang qui ước cột sống thắt lưng, chụp cắt lớp, chụp cộng hưởng từ… Chụp X-quang qui ước và chụp cộng hường từ là các phương pháp thương sử dụng nhất để xác định mức độ trượt, đánh giá mức độ thoái hoá của cột sống và phát hiện các nguyên nhân gây chèn ép thần kinh.

Chụp X-quang qui ước cột sống thắt lưng là phương pháp đơn giản, hiệu quả phát hiện bệnh TĐS và đánh giá các biến dạng của cột sống. Đa số trường hợp TĐS do khe hở eo, di tật khuyết xương ở vùng eo rõ ràng và dễ nhận biết. Tuy nhiên tỷ lệ âm tính giả có thể tới 15-20%. X-quang cột sống thắt lưng chếch 3/4 phát hiện khe hở eo tốt hơn. Nên chụp X-quang cột sống thắt lưng ở tư thế đứng. ở tư thế này các biến dạng của cột sống được bộc lộ rõ rệt nhất. Di lệch trượt được chia độ theo Mayerding hoặc tính theo tỷ lệ phần trăm. X-quang động giúp phát hiện những chuyển động bất thường của đốt sống. Cột sống được coi là mất vững khi đốt sống di lệch từ 4,5mm trở lên hay di lệch 15%. Các biến dạng của cột sống thắt lưng được đánh giá theo các góc đo của cột sống thắt lưng: góc ưỡn cột sống thắt lưng, góc xoay, góc nghiêng xương cùng...

Cộng hưởng từ là lựa chọn hàng đầu nhờ khả năng cho hình ảnh giải phẫu cột sống. CHT là phương pháp không can thiệp và có độ nhậy cao nhất trong chẩn đoán thoái hoá đĩa đệm. Tổ chức xơ từ khe hở eo và các nguyên nhân gây chèn ép rễ được phát hiện tốt bằng CHT. Có thể nói, CHT là phương pháp chẩn đoán hình ảnh duy nhất cho phép đánh giá tình trạng hẹp lỗ ghép. Trên các phim cắt dọc cột sống qua vùng lỗ ghép của BN TĐS, rễ thần kinh bị coi là chèn ép khi mất tín hiệu của tổ chức mỡ xung quanh rễ hoặc không thể nhận biết được rễ trong lỗ ghép.

Chia sẻ lên Facebook
Cong-ty-May-bom-Nhat-Y-Share-on-Facebook

Mô tả

Trượt đốt sống (TĐS) là bệnh lý cột sống thường gặp trong lâm sàng. TĐS xảy ra chủ yếu ở vùng cột sống thắt lưng, cột sống cổ và cột sống ngực ít gặp hơn. Bài viết này tập trung về bệnh lý TĐS cột sống thắt lưng. TĐS vùng thắt lưng do nhiều nguyên nhân khác nhau gây nên: bẩm sinh, thoái hoá, chấn thương, bệnh lý… trong đó nguyên nhân thường gặp nhất là trượt đốt sống do hở eo và do thoái hoá.

1. Phân loại bệnh trượt đốt sống

Dựa trên phân loại của Newman, Macnab, năm 1976 Wiltse tổng hợp và đưa ra bảng phân loại chia bệnh TĐS thành sáu loại khác nhau:

1.1. Trượt đốt sống bẩm sinh (Congenital spondylolisthesis)

TĐS bẩm sinh hay còn gọi TĐS do rối loạn phát triển (Dysplastic spondylolisthesis). Đặc trưng của TĐS bẩm sinh là các khiếm khuyết về giải phẫu của mấu khớp. Bệnh khởi phát sớm từ tuổi thiếu nhi, TĐS có tính chất tiến triển. Tuỳ theo đặc điểm rối loạn phát triển của mấu khớp, TĐS bẩm sinh được chia làm hai nhóm phụ như sau:

-      Nhóm phụ I A: Thiểu sản mấu khớp, định hướng của khe khớp nằm trên mặt phẳng hướng ra sau, thường có dị tật gai đôi cột sống.

-      Nhóm phụ I B: Thiểu sản mấu khớp, định hướng của khe khớp nằm trên mặt phẳng hướng vào trong.

1.2. Trượt đốt sống do khe hở eo (Isthmic spondylolisthesis)

TĐS liên quan tới tổn thương vùng eo được chia làm ba nhóm nhỏ:

-      Nhóm phụ II A: Loại khuyết eo được nhận định là do gãy mệt.

-      Nhóm phụ II B: Loại trượt này phần eo cung sau dài hơn bình thường. Sự kéo dài này được giải thích là do hiện tượng gãy xương và liền xương xảy ra liên tục ở vùng eo.

-      Nhóm phụ II C: Chấn thương làm gãy eo gây trượt. Nhóm này cần phân biệt với TĐS chấn thương do gãy xương ở ngoài vùng eo.

1.3. Trượt đốt sống do thoái hoá (Degenerative spondylolisthesis)

TĐS thoái hoá xảy ra chủ yếu ở vị trí L4-5, bệnh thường gặp ở phụ nữ, tuổi từ 40-50. Thoái hoá cột sống, đặc biệt là thoái hoá đĩa đệm và các mấu khớp, làm mất tính vững chắc vốn có của cột sống gây nên TĐS. TĐS thoái hoá gặp nhiều thứ hai sau TĐS do khe hở eo.

 1.4. Trượt đốt sống do bệnh lý (Pathologic spondylolisthesis)

Các bệnh nhiễm khuẩn, ung thư làm hoại tử hay phá hủy các cấu trúc của cột sống có thể gây TĐS. BN mắc bệnh xương hoá đá (osteopetrosis) cũng thường có TĐS. Nhóm BN này nguy cơ gãy xương cao và do đó thường có khe hở eo. Martin thông báo 5/7 BN mắc bệnh xương hoá đá có khe hở eo và TĐS độ I. BN mắc bệnh xương hoá đá có thể hở eo ở nhiều đốt sống của cột sống thắt lưng, nhưng cũng có thể hở eo ở các đoạn cột sống khác.

1.5. Trượt đốt sống do chấn thương (Traumatic spondylolisthesis)

Chấn thương làm gãy cuống, gãy mấu khớp dẫn tới mất vững cột sống và trong một số trường hợp gây TĐS. Nhìn chung TĐS do chấn thương hiếm gặp, tuy nhiên cần phải chú ý khi trong tiền sử có chấn thương.

1.6. Trượt đốt sống sau phẫu thuật (Post-surgical spondylolis- thesis)

TĐS “do thầy thuốc” được Unander - Scharin đề cập lần đầu tiên vào năm 1950. Phẫu thuật cắt cung sau hoặc cắt cung sau mở rộng kèm theo cắt bỏ các mấu khớp có thể gây TĐS, đặc biệt trên những BN đã có tình trạng cột sống mất vững trước khi mổ. Thống kê của Richard cho thấy khoảng 3-5% BN mổ giải phóng chèn ép do bệnh lý thoái hoá cột sống gây mất vững cột sống sau mổ. Đối với BN được ghép xương, nhiều năm sau mổ có thể xảy ra TĐS ở trên mức ghép xương. Brunet J.A thông báo 14 trường hợp hình thành khe hở eo trong vòng 5 năm sau các phẫu thuật ghép xương vùng cột sống. Theo ông ngoài nguyên nhân làm tổn thương eo hai bên còn có sự tham gia của các yếu tố bệnh sinh khác như gãy mệt, tổn thương và làm giảm chức năng các dây chằng, thoái hoá đĩa đệm lân cận mức ghép xương.

Mặc dù vẫn còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau trong phân loại bệnh TĐS, nhưng đây là bảng phân loại phổ biến nhất. Cách phân loại dựa trên đặc điểm giải phẫu giúp thấy rõ nguyên nhân gây bệnh, giúp tiên lượng diễn biến của bệnh để lập kế hoạch điều trị hợp lý.

2. Lâm sàng và chẩn đoán hình ảnh

2.1. Triệu chứng lâm sàng

Đặc điểm lâm sàng chung của bệnh TĐS là tình trạng mất vững cột sống và chèn ép các rễ thần kinh. Cần thăm khám lâm sàng cẩn thận và tỷ mỉ để phát hiện ra các triệu chứng mất vững cột sống và các triệu chứng chèn ép rễ thần kinh.

Đau cột sống thắt lưng âm ỉ liên tục. Đau tăng khi cột sống phải chịu tải (đứng, đi bộ, lao động…), nằm nghỉ hết đau hoặc mức độ đau giảm nhiều. Thay đổi tư thế cũng gây đau cột sống, BN phải chống tay vào đùi khi đứng lên. BN TĐS nặng thường có biến đổi tư thế thân người và dáng đi. Cột sống thắt lưng có thể có biến dạng lõm, được gọi bằng nhiều tên khác nhau: dấu hiệu bậc thang, dấu hiệu nhát rìu…

Đau kiểu rễ hiếm khi xuất hiện ở thanh thiếu niên, nhưng khá phổ biến ở nhưng BN nhiều tuổi hơn. Đau cách hồi (intermittent pain) là triệu chứng đau đặc trưng của bệnh TĐS. BN đau khi đi bộ nằm nghỉ hết đau. Những BN có chèn ép rễ thần kinh thường đau cả khi nằm nghỉ. BN phải được phát hiện những dấu hiệu tổn thương thần kinh kèm theo nếu có để định khu rễ bị tổn thương.

2.2. Chẩn đoán hình ảnh

Nhiều phương pháp chẩn đoán hìn ảnh được sử dụng trong chẩn đoán bệnh TĐS: X-quang qui ước cột sống thắt lưng, chụp cắt lớp, chụp cộng hưởng từ… Chụp X-quang qui ước và chụp cộng hường từ là các phương pháp thương sử dụng nhất để xác định mức độ trượt, đánh giá mức độ thoái hoá của cột sống và phát hiện các nguyên nhân gây chèn ép thần kinh.

Chụp X-quang qui ước cột sống thắt lưng là phương pháp đơn giản, hiệu quả phát hiện bệnh TĐS và đánh giá các biến dạng của cột sống. Đa số trường hợp TĐS do khe hở eo, di tật khuyết xương ở vùng eo rõ ràng và dễ nhận biết. Tuy nhiên tỷ lệ âm tính giả có thể tới 15-20%. X-quang cột sống thắt lưng chếch 3/4 phát hiện khe hở eo tốt hơn. Nên chụp X-quang cột sống thắt lưng ở tư thế đứng. ở tư thế này các biến dạng của cột sống được bộc lộ rõ rệt nhất. Di lệch trượt được chia độ theo Mayerding hoặc tính theo tỷ lệ phần trăm. X-quang động giúp phát hiện những chuyển động bất thường của đốt sống. Cột sống được coi là mất vững khi đốt sống di lệch từ 4,5mm trở lên hay di lệch 15%. Các biến dạng của cột sống thắt lưng được đánh giá theo các góc đo của cột sống thắt lưng: góc ưỡn cột sống thắt lưng, góc xoay, góc nghiêng xương cùng...

Cộng hưởng từ là lựa chọn hàng đầu nhờ khả năng cho hình ảnh giải phẫu cột sống. CHT là phương pháp không can thiệp và có độ nhậy cao nhất trong chẩn đoán thoái hoá đĩa đệm. Tổ chức xơ từ khe hở eo và các nguyên nhân gây chèn ép rễ được phát hiện tốt bằng CHT. Có thể nói, CHT là phương pháp chẩn đoán hình ảnh duy nhất cho phép đánh giá tình trạng hẹp lỗ ghép. Trên các phim cắt dọc cột sống qua vùng lỗ ghép của BN TĐS, rễ thần kinh bị coi là chèn ép khi mất tín hiệu của tổ chức mỡ xung quanh rễ hoặc không thể nhận biết được rễ trong lỗ ghép.

Viết đánh giá

Tên bạn:


Đánh giá của bạn: Lưu ý: không hỗ trợ HTML!

Bình chọn: Xấu           Tốt

Nhập mã kiểm tra vào ô bên dưới: